• PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT MÔ HÌNH NUÔI CÁ LÓC (Channa striata) TRONG AO Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT MÔ HÌNH NUÔI CÁ LÓC (Channa striata) TRONG AO Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Xem các bài khác
Số trang của bài
107-112
Bài toàn văn
Chuyên mục
Tạp chí thường kỳ
Tên bài

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT MÔ HÌNH NUÔI CÁ LÓC (Channa striata) TRONG AO Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Tên tác giả
Huỳnh Văn Hiền, Trần Thị Thanh Hiền Phạm Minh Đức và Robert S. Pomeroy
Category
Monthly Journal
Title

Analysis of efficiency of snakeahead (Channa striata) model culturing in earthern pond in the Mekong Delta

Author
Huynh Van Hien, Tran Thi Thanh Hien Pham Minh Duc and Robert S. Pomeroy
Tóm tắt

Khảo sát được tiến hành với 131 hộ nuôi cá lóc trong ao với 3 qui mô gồm qui mô nhỏ (QMN) diện tích 300 - 700 m2 /ao có 30 hộ; qui mô vừa (QMV) diện tích 700 - 1.500 m2 /ao có 70 hộ và qui mô lớn (QML) diện tích >1.500 - 8.000 m2 /ao có 31 hộ tại vùng nuôi cá lóc tập trung ở 3 tỉnh An Giang, Đồng Tháp và Trà Vinh từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2017. Nghiên cứu nhằm phân tích hiệu quả sản xuất mô hình nuôi cá lóc theo qui mô diện tích nuôi từ đó khuyến cáo qui mô nuôi phát triển bền vững phù hợp với điều kiện thực tế ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Kết quả phân tích cho thấy về khía cạnh kỹ thuật: Mật độ nuôi QMN (55,1 con/m2 ) cao hơn QMV (51,3 con/m2 ) và QML (51,9 con/m2 ); tỷ lệ sống QMN (63,1%) thấp hơn QMV (64,5%) và cao hơn QML (57,5%); năng suất QMN (15,6 kg/ m2 ) thấp hơn QMV (16,2 kg/m2 ) và QML (16,9 kg/m2 ). Về khía cạnh hiệu quả kinh tế: Chi phí đầu tư QMN (485,2 ngàn đồng/m2 ) thấp hơn QMV (502,5 ngàn đồng/m2 ) và QML (525,6 ngàn đồng/m2 ); giá thành sản xuất QMN (30,9 ngàn đồng/kg cá) thấp hơn QMV (31 ngàn đồng/kg cá) và QML (31,2 ngàn đồng/kg cá); tỉ suất lợi nhuận QMN (4,3%) cao hơn QMV (1,4%) và thấp hơn QML (5,8%). Chi phí thức ăn chiếm tỉ trọng lớn nhất (78,4-81,8%) trong tổng chi phí ở các qui mô nuôi. Tóm lại, căn cứ vào khía cạnh kỹ thuật, hiệu quả tài chính và điều kiện thực tế về qui mô sản xuất thì QMN phù hợp cho sự phát triển nuôi cá lóc trong ao đất qui mô nông hộ ở ĐBSCL.

Abstract

A survey of 131 housholds culturing snakehead with three scales production as following: 30 households with small scale (SS) 300 - 700 m2 ; 70 households with medium scale (MS) 700 - 1,500 m2 and 31 households with large scale (LS) > 1,500 - 8,000 m2 was carried out in the main snakehead culture areas in three provinces of An Giang, Dong Thap and Tra Vinh from January to December 2017. The study aimed to analyze production efficiency of snakehead culture to find out the optimal scale for recommend of sustainable culturing scale in the Mekong Delta. The technical analysis showed that the stocking density of small scale (SS) (55.1 ind/m2 ) was higher than that of medium scale (MS) (51.3 ind/m2 ) and large scale (LS) (51.9 ind/m2 ); survival rate of SS (63.1%) was lower than MS (64.5%) and higher than LS (57.5%); yield of SS (15.6 kg/m2 ) was lower than MS (16.2 kg/m2 ) and LS (16.9 kg/m2 ). In terms of economic efficiency: Direct cost of SS (485.2 thousand VND/m2 ) was lower than that of MS (502.5 thousand VND/ m2 ) and LS (525.6 thousand VND/m2 ); the production cost of SS (30.9 thousand VND/kg) was lower than that of MS (31 thousand VND/kg) and LS (31.2 thousand VND/kg); profit ratio of SS (4,3%) was higher that that of MS (1,4%) and lower than that of LS (5,8%). Feed cost accounts for the largest proportion (78.4-81.8%) of total cost at all farming scales. In summary, based on technical and economic aspects and actual conditions of production scale, SS is suitable for the sustainable development of snakehead fish in household culture in the Mekong Delta.

Từ khoá / Keywords

Cá lóc
hiệu quả sản xuất
qui mô sản xuất
Snakehead
production efficiency
production scale