• HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT VÀ TÀI CHÍNH CỦA MÔ HÌNH NUÔI LƯƠN ĐỒNG (Monopterus albus) THƯƠNG PHẨM

HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT VÀ TÀI CHÍNH CỦA MÔ HÌNH NUÔI LƯƠN ĐỒNG (Monopterus albus) THƯƠNG PHẨM

Xem các bài khác
Số trang của bài
122-128
Bài toàn văn
Chuyên mục
Tạp chí thường kỳ
Tên bài

HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT VÀ TÀI CHÍNH CỦA MÔ HÌNH NUÔI LƯƠN ĐỒNG (Monopterus albus) THƯƠNG PHẨM

Tên tác giả
Phạm Minh Đức, Huỳnh Văn Hiền, Trần Thị Thanh Hiền
Category
Monthly Journal
Title

Technical and financial status in the culture system of Asian swamp eel (Monopterus albus)

Author
Pham Minh Duc, Huynh Van Hien, Tran Thi Thanh Hien
Tóm tắt

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá khía cạnh kỹ thuật và tài chính của mô hình nuôi lươn đồng (Monopterus albus) thương phẩm tại huyện Châu Thành, tỉnh An Giang và huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ từ tháng 8 - 11/2016. Tổng số 60 hộ nuôi lươn được khảo sát bằng phương pháp phỏng vấn. Kết quả cho thấy diện tích trung bình bể nuôi là 33,6 ± 18,8 m2 /bể/hộ và độ sâu 0,5 ± 0,1 m. Mật độ thả trung bình 56,1 ± 12,2 con/m2 . Lươn được cho ăn bằng cá tạp, ốc và thức ăn viên. Sau 241,3 ± 23,8 ngày nuôi, lươn có khối lượng 231,4 ± 44,3 g/con được thu hoạch với tỉ lệ sống 68,9 ± 13,8%, năng suất 10,7 ± 2,9 kg/m2 /vụ và hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) 3,3 ± 1,2. Tổng chi phí nuôi là 662,2 ± 113,5 ngàn đồng/m2 /vụ, tổng doanh thu 1.536,8 ± 467,5 ngàn đồng/m2 /vụ, lợi nhuận đạt 874,6 ± 440,3 ngàn đồng/m2 /vụ và tỉ suất lợi nhuận là 1,3 ± 0,7 lần. Kết quả phân tích đa biến và đơn biến cho thấy diện tích bể nuôi và hệ số FCR là quan trọng nhất lần lượt giải thích 19,5% và 16,0% độ biến động của năng suất nuôi (P < 0,05). Bên cạnh đó, hệ số FCR, giá bán (loại 2) và diện tích bể nuôi quyết định đến sự biến động của lợi nhuận của mô hình nuôi (lần lượt giải thích 37,8%; 9,0% và 7,1% độ biến động) (P < 0,05). Mô hình nuôi lươn còn gặp nhiều trở ngại về chất lượng con giống, thức ăn và dịch bệnh.

Abstract

This study aimed to evaluate the status of technical and financial aspects of Asian swamp eel (Monopterus albus) cultured in Chau Thanh District (An Giang Province) and Vinh Thanh District (Can Tho City) during 8 - 11/2016. A total of 60 households were interviewed using questionnaire. The study results revealed that the average culture area was 33.6 ± 18.8 m2 /tank/household and water depth was 0.5 ± 0.1 m. Culture density was 56.1 ± 12.2 eel/m2 . The eel were fed with a combination of trash fish, snail and commercial feed. After 241.3 ± 23.8 days of culturing, the eels (with the average weight of 231.4 ± 44.3 g/eel) were harvested with an average survival rate of 68.9 ± 13.8%; the average yield was 10.7 ± 2.9 kg/m2 /crop and feed conversion ratio (FCR) was 3.3 ± 1.2. Total production cost was 662.2 ± 113.5 thousand VND/m2 /crop, gross income was 1,536.8 ± 467.5 thousand VND/m2 /crop and net income was 874.6 ± 440.3 thousand VND/m2 /crop and the gross profit ratio was 1.3±0.7 times. Based on linear model and multivariate linear model analyses, the results found that culture area and FCR were the best predictors, explaining 19.5% and 16.0%, respectively, to the variation in eel yield (P< 0.05). Besides, FCR, prices (class 2) and culture area were main factors affecting net income (explaining 37.8%, 9.0% and 7.1% variation in net income, respectively) (P < 0.05). This culture system still remained difficulties in brookstock quality, feed used and disease outbreaks.

Từ khoá / Keywords

Lươn đồng
Mô hình
hiện trạng kỹ thuật và tài chính
Eel
Model
technical and financial status