ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CHỊU HẠN VÀ KHẢO NGHIỆM CÁC GIỐNG CAO LƯƠNG LÀM THỨC ĂN XANH CHO GIA SÚC
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CHỊU HẠN VÀ KHẢO NGHIỆM CÁC GIỐNG CAO LƯƠNG LÀM THỨC ĂN XANH CHO GIA SÚC
Evaluation of drought tolerance and testing of sorghum varieties for livestock green forage
Bảy giống cao lương làm thức ăn xanh cho gia súc đã được đánh giá khả năng chịu hạn bằng phương pháp gây hạn nhân tạo tại thời điểm cây có 3 lá và được khảo nghiệm tại 3 tỉnh Ninh Thuận, Bình uận và Khánh Hoà (Vùng bán khô hạn Nam Trung bộ, Việt Nam). Kết quả đã xác định được 2 giống cao lương có khả năng chịu hạn cao là giống CL2 và Latte với các chỉ số chịu hạn tương đối lần lượt là 18745,6 và 19157,8. Kết quả khảo nghiệm các giống cao lương cho thấy 2 giống CL2 và Latte có khối lượng chất xanh/khóm cao (lần lượt là 973,9 gam và 913,8 gam) và năng suất chất xanh cao (lần lượt 129,2 tấn/ha và 129,9 tấn/ha). Hàm lượng chất khô của 2 giông CL2 và Latte cũng cao hơn các giống khác, lần lượt là 16,0% và 16,2%.
Seven sorghum varieties were evaluated for drought tolerance by the artificial drought method at the time of three-leaf plants and tested in Ninh Thuan, Binh Thuan and Khanh Hoa provinces (the Southern Coastal Central in Vietnam). Two varieties including CL2 and Latte were identified to be high-drought tolerant, with relatively drought tolerant indexes of 18745.6 and 19157.8; respectively. Analysis of the yield and yield components of sorghum varieties in Ninh Thuan, Binh Thuan and Khanh Hoa showed that sorghum varieties CL2 and Latte had the highest biomass/clump (973.9 g and 913.8 g) respectively. The highest biomass was also recorded at two sorghum varieties CL2 and Latte (129.2 tons ha-1 and 129.9 tons ha-1). In addition, two sorghum varieties CL2 and Latte also had the highest dry matter content (16% and 16.2%).