ẢNH HƯỞNG NGUỒN CÁ BỐ MẸ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÀ TỈ LỆ SỐNG CÁ SẶC RẰN GIAI ĐOẠN NUÔI THƯƠNG PHẨM
ẢNH HƯỞNG NGUỒN CÁ BỐ MẸ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÀ TỈ LỆ SỐNG CÁ SẶC RẰN GIAI ĐOẠN NUÔI THƯƠNG PHẨM
Effects of broodstock sources on growth and survival rates of snakeskin gourami at grow-out stage
Nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của các nguồn cá bố mẹ đến tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá sặc rằn ở giai đoạn nuôi thương phẩm. Cá giống từ ba nguồn cá bố mẹ: cá nuôi ở Đồng Tháp (ĐT) và hai nguồn cá tự nhiên từ Cà Mau (CM) và Kiên Giang (KG) đã được ương 2,5 tháng, có khối lượng 5,84 - 7,30 g. Cá được nuôi thương phẩm trong 6 ao (200 m2/ao) với mật độ 20 con/m2. Sau 7 tháng, khối lượng cá nguồn ĐT đạt cao nhất (117,2 ± 34,9 g), khác biệt có ý nghĩa (p < 0,05) so với cá nguồn CM (95,7 ± 17,7 g) và KG (104,6 ± 30,3 g). Nguồn cá ĐT có tỉ lệ sống (89,8 ± 3,5%) khác biệt có ý nghĩa (p < 0,05) so với nguồn CM nhưng không khác biệt so với nguồn KG. Hai nguồn cá tự nhiên CM và KG tương đương nhau về tỉ lệ sống (80,9% và 85,5%) (p > 0,05). Hệ số thức ăn của ba nguồn cá tương đương nhau (p > 0,05), dao động 2,08 - 2,26. Năng suất cá sặc rằn nuôi từ nguồn ĐT (21.034 ± 479 kg/ha) cao hơn có ý nghĩa so với nguồn CM (14.335 ± 400 kg/ha) và KG (15.957 ± 2.318 kg/ha) (p < 0,05).
The study aimed to evaluate effects of broodstock sources on growth and survival rates of snakeskin gourami at the grow-out stage. The experimental fingerlings were produced from the three broodstock sources including one domesticated broodstock from Dong Thap province and two wild sources from Ca Mau and Kien Giang provinces. The 2.5-month-old fingerlings with initial sizes from 5.84 to 7.30 g were stocked randomly in 6 ponds (200 m2/pond) with a density of 20 fish/m2. After 7 months of culture, the final weight of Dong Thap fish (117.2 ± 34.9 g) was highest (p < 0.05), compared to Ca Mau (95.7 ± 17.7 g) and Kien Giang ones (104.6 ± 30.3 g). The survival rate of Dong Thap fish source (89.8 ± 3.5%) was significantly different (p < 0.05) from Ca Mau source but not different from Kien Giang source. The two wild fish sources Ca Mau and Kien Giang were similar in survival (80.9% and 85.5%) (P > 0.05). Feed conversion ratios were similar among the three fish sources, ranging from 2.08 to 2.25 (p > 0.05). The significantly highest total yield (p < 0.05) was obtained with Dong Thap fish (21,034 ± 479 kg/ha) in comparison with Ca Mau and Kien Giang fish (14,335 ± 400 and 15,957 ± 2,318 kg/ha, respectively).