ẢNH HƯỞNG CỦA MÙA VỤ TRỒNG VÀ THỜI GIAN THU HOẠCH ĐẾN CÁC THÀNH PHẦN CHỐNG OXY HÓA CỦA CÂY THUỐC DÒI (Pouzolzia zeylanica L. Benn)
ẢNH HƯỞNG CỦA MÙA VỤ TRỒNG VÀ THỜI GIAN THU HOẠCH ĐẾN CÁC THÀNH PHẦN CHỐNG OXY HÓA CỦA CÂY THUỐC DÒI (Pouzolzia zeylanica L. Benn)
Effect of cultivating season and harvesting time on antioxidant constituents in Pouzolzia zeylanica (L.) Benn
Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát ảnh hưởng của mùa vụ trồng (mùa nắng và mùa mưa) và thời gian thu hoạch (30, 45, 60, 75 và 90 ngày sau khi trồng) đến các thành phần chống oxy hóa (các hợp chất có hoạt tính sinh học và khả năng chống oxy hóa của dịch trích ly ethanol) của cây thuốc dòi được trồng ở Khu thực nghiệm, Trường Đại học An Giang. Kết quả cho thấy, giá trị trung bình các hợp chất anthocyanin, flavonoid, polyphenol, tannin và hoạt động chống oxy hóa của cây thuốc dòi được trồng trong mùa nắng cao hơn và khác biệt có ý nghĩa thống kê (P ≤ 0,05) so với mùa mưa. Hàm lượng anthocyanin đạt giá trị cao nhất khi cây thuốc dòi ở 30 ngày tuổi (60,53 ± 0,94 và 40,81 ± 0,31 mg CE/100 g FW, lần lượt cho mùa nắng và mùa mưa). Trong khi đó, hàm lượng flavonoid và tannin đạt giá trị cao nhất ở 45 ngày tuổi (2,46 ± 0,11 và 2,12 ± 0,02 mg QE/g FW; 4,09 ± 0,07 và 3,85 ± 0,10 mgTAE/g FW, lần lượt cho 2 vụ nắng và mưa). Hàm lượng polyphenol tìm thấy cao nhất ở 60 ngày tuổi (6,24 ± 0,32 mg GAE/g FW) trong mùa nắng và 45 ngày tuổi (4,55 ± 0,19 mg GAE/g FW) trong mùa mưa. Tại những thời gian tối ưu này, các chỉ số thu được đều có sự khác biệt thống kê (P ≤ 0,05) so với các thời gian sinh trưởng khác. Hoạt động chống oxy hóa thông qua chỉ số chống oxy hóa (AAI), năng lực khử sắt (FRAP) và khả năng khử gốc tự do (DPPH) của dịch trích ly ethanol từ cây thuốc dòi cũng thu được giá trị cao nhất ở 60 và 45 ngày tuổi lần lượt cho mùa nắng và mùa mưa.
This research was carried out to investigate effect of cultivating seasons (dry and wet seasons) and harvesting time (30, 45, 60, 75 and 90 days after planting) on antioxidant constituents (bioactive compounds and antioxidant ability of ethanol extract) in Pouzolzia zeylanica cultivated in experimental area at An Giang University. The results indicated that the mean values of bioactive compounds such as anthocyanin, flavonoid, polyphenol, tannin and antioxidant activity of Pouzolzia zeylanica cultivated in dry season were higher than in wet season; and the statistical difference was significant at P ≤ 0.05. The highest anthocyanin content was 60.53 ± 0.94 and 40.81 ± 0.31 mg CE/100 g FW for dry and wet seasons, as herbs at 30 days-old after cultivating while the highest flavonoid and tannin content were 2.46 ± 0.11 and 2.12 ± 0.02 mg QE/g FW; 4.09 ± 0.07 and 3.85 ± 0.10 mg TAE/g FW for dry and wet seasons, respectively; as herbs at 45 days-old. The highest polyphenol content (6.24 ± 0.32 mg GAE/g FW) was found in dry season at 60 days-old and 4.55 ± 0.19 mg GAE/g FW in wet season at 45 days-old. At these optimal times, the obtained indices had significantly statistical difference at P ≤ 0.05 from other growth times. The antioxidant activity through antioxidant ability index (AAI), ferrous reducing ability power (FRAP) and free radical scavenging capacity (DPPH) of ethanol extract from Pouzolzia zeylanica was also obtained the highest values in 60 and 45 days-old in dry and wet seasons, respectively.