• XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM CHUYỂN ĐỔI THỨC ĂN CHẾ BIẾN PHÙ HỢP TRONG ƯƠNG LƯƠN TỪ BỘT LÊN GIỐNG

XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM CHUYỂN ĐỔI THỨC ĂN CHẾ BIẾN PHÙ HỢP TRONG ƯƠNG LƯƠN TỪ BỘT LÊN GIỐNG

Xem các bài khác
Số trang của bài
120-127
Bài toàn văn
Chuyên mục
Tạp chí thường kỳ
Tên bài

XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM CHUYỂN ĐỔI THỨC ĂN CHẾ BIẾN PHÙ HỢP TRONG ƯƠNG LƯƠN TỪ BỘT LÊN GIỐNG
 

Tên tác giả
Trần Thị Thanh Hiền, Phạm Thanh Liêm, Phạm Minh Đức, Nguyễn Thanh Hiệu, Lam Mỹ Lan
Category
Monthly Journal
Title

Determination of weaning time for effective use of formulated feed in rearing Asian swamp eel larvae
 

Author
Tran Thi Thanh Hien, Pham Thanh Liem, Pham Minh Duc, Nguyen Thanh Hieu, Lam My Lan
Tóm tắt

Nghiên cứu nhằm xác định thời điểm chuyển đổi thức ăn chế biến hiệu quả trong ương lươn (Monopterus albus) giống. Thí nghiệm 1 gồm 5 nghiệm thức với các thời điểm sử dụng thức ăn chế biến khác nhau là 20, 25, 30, 35 và 40 ngày sau nở và 1 nghiệm thức đối chứng (thức ăn Moina, trùn chỉ và cá biển xay). Lươn 1 ngày tuổi được bố trí trên 18 khay nhựa (20 L nước) với mật độ 150 con/khay; thời gian thí nghiệm 60 ngày. Kết quả tăng trưởng của lươn ở các nghiệm thức tập ăn thấp hơn so với đối chứng; tuy nhiên, tỉ lệ sống ở các nghiệm thức tập ăn từ ngày 35 thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với đối chứng (p > 0,05). Thí nghiệm 2 để so sánh hiệu quả khi chuyển đổi thức ăn cá biển xay và thức ăn chế biến từ 35 ngày tuổi. Kết quả tỉ lệ sống của lươn giống đều đạt cao ở cả hai nghiệm thức thức ăn cá biển xay và thức ăn chế biến lần lượt 92 và 94%. Tăng trưởng của lươn ăn thức ăn chế biến thấp hơn 10% so với lươn ăn thức ăn cá biển xay; tuy nhiên chi phí thức ăn ương lươn giống bằng thức ăn chế biến (54,5 đồng/lươn giống) thấp hơn 7 lần và có ý nghĩa thống kê (P < 0,05) so với nghiệm thức thức ăn cá biển xay (344,5 đồng/lươn giống).
 

Abstract

This study was conducted to determine the time for effective use of formulated feed in rearing Asian swampeel (Monopterus albus) larvae. The experiment 1 consisted of 5 different times (20, 25, 30, 35 and 40 dayspost-hatched) of using formulated feed and 1 control treatment (Moina, worm and marine-fish meat) with 3 replications. 1-day-old eel was allocated on 18 plastic trays (20L of water) with stocking density of 150 individuals/tray; the experiment lasted for 60-days. The results showed that the growth of eel in the formulated feed treatments were lower than that in the control treatment; however, the survival rate in the treatment of weaning at the 35 days, the difference was not statistically significant compared to the control (p>0.05). The experiment 2 was set up to compare the weaning of marine-fish meat to formulated feed on 35th day. The results showed that the survival rate of marine-fish meat treatment and formulated feed treatment was 92 and 94%, respectively. The growth was 10% lower than that of formulated feed treatment; however, the cost of feed for breeding eel breeds by formulated feed (54.5 VND/individual) was 7 times lower and was statistically significant (P<0.05) compared to marine-fish meat (344.5 VND/individual).
 

Từ khoá / Keywords

Lươn
Monopterus albus
tập ăn
thức ăn chế biến
Eel
Monopterus albus
weaning
formulated feed